Home > Xe cũ > Suzuki Window Van “Su cóc” làm xe gia đình, tại sao không?

Suzuki Window Van “Su cóc” làm xe gia đình, tại sao không?

Tháng Một 23, 2017 - 3:54 chiều

Chiếc xe nhỏ bé Suzuki Window Van đã đưa chúng tôi vượt gần 700 cây số để khám phá các danh thắng cũng như điểm đến đầy thơ mộng trên vùng đồi núi của tỉnh Sơn La, ở độ cao trên 1000 mét so với mực nước biển. Một chuyến đi cuối tuần đầy cảm xúc…

Suzuki_Window_Van_1

Có lẽ nhiều người chẳng xa lạ với hình ảnh của những chiếc xe tải bé tẹo được các doanh nghiệp kinh doanh vận tải sử dụng làm phương tiện chuyển nhà và văn phòng trọn gói, len lỏi khắp các ngóc ngách của thành phố. Phiên bản minivan của nó được các bưu cục sử dụng để làm xe đưa thư/báo đi khắp các nẻo đường, từ thành thị đến nông thôn. Những tiểu thương hay các công ty cũng dùng những chiếc xe như thế này để chở hàng hóa từ nhà cung cấp hay cửa khẩu về các chợ đầu mối ở khắp các tỉnh thành…

Những hình ảnh quen thuộc ấy đã và vẫn đang diễn ra từ nhiều năm nay, giữa dòng đời, dòng xe cộ nhộn nhịp. Nhưng sẽ là bất ngờ nếu ở đâu đó người ta lên tiếng hỏi ý kiến nhau về việc lựa chọn một chiếc xe như thế này làm xe gia đình.

Suzuki_Window_Van_12

Và thực tế là rất nhiều ý kiến trên các diễn đàn chuyên ngành ô tô tại Việt Nam phản biện ý tưởng này trong thời gian qua. Có ý kiến cho rằng chiếc xe yếu, chám òm, ồn, nhanh xuống cấp… Những comment đó có khách quan chăng? Liệu chiếc xe vốn rất phổ dụng trong giới vận tải hàng hóa bao nhiêu năm qua có xứng đáng bị những lời chỉ trích như thế?

Không hề có ý “minh oan” cho Window Van, nhưng chúng tôi đã quyết định thực hiện một cuộc hành trình khám phá lên vùng đồi núi của tỉnh Sơn La để có những cảm nhận thực sự về chiếc xe này. Chiếc xe mà chúng tôi sử dụng trong hành trình này là bản sản xuất năm 2000.

Bất ngờ từ sự đơn giản

Điều thực sự bất ngờ và khác biệt đầu tiên của Window Van so với các dòng xe khác chính là không gian sử dụng. Với chiều dài rất khiêm tốn, chỉ gần 3,3 mét, thậm chí còn ngắn hơn cả một chiếc Kia Morning (khoảng 3,6 mét) hay Chevrolet Spark (khoảng 3,5 mét), nhưng Window Van lại đủ chỗ cho 3 hàng ghế để 7 người ngồi thoải mái. Không những thế, không gian để chân của hàng ghế thứ hai rất rộng, giúp người ngồi có thể thỏa sức duỗi chân. Chiều rộng của xe cũng chỉ gần 1,4 mét, hẹp hơn Spark tới 10cm, nhưng không gian ca-bin vẫn không bị gò bó. Đặc biệt, chiều cao tổng thể của xe lên tới 1.780mm, tương đương với các dòng xe địa hình hoặc đa dụng cỡ trung và lớn khác, nên không gian phía trên đầu rất thoáng.

Suzuki_Window_Van_7

Để làm được vấn đề này, nhà sản xuất đã phải giải quyết rất nhiều bài toán về thiết kế và trang bị. Trước tiên, việc xử lý phần không gian đặt động cơ có vẻ như hơi gò ép. Động cơ 1.0 lít được đặt ngay phía trên của cầu trước và truyền động ra cầu sau. Hàng ghế trước gồm ghế lái và ghế hành khách được đặt ngay trên nắp che động cơ. Két nước làm mát không cần quạt gió, được bố trí ngay phía dưới gầm bên sườn trái. Tuy nhiên, cách bố trí này cũng có mặt lợi thế là hạ thấp trọng tâm của xe – điều vô cùng quan trọng đối với một chiếc xe có chiều rộng cơ sở hẹp.

Tiếp đó, thiết kế nội thất giải quyết bài toán không gian sử dụng và trọng lượng của xe. Toàn bộ hai hàng ghế phía sau đều được đặt trên những chiếc khung ống nhỏ và rất đơn giản. Táp-pi cửa mỏng và không có một hộc chứa đồ nào. Cửa lùa phía sau còn đơn giản tới mức kính hai tấm không có hệ thống điều khiển lên xuống, mà phải trượt dọc bằng tay. Trần xe thì được xử lý bằng một lớp mút mềm dán thẳng vào tấm nóc với hai thanh đỡ bổ sung bên trong. Có lẽ ngay cả những người có tư duy đơn giản nhất cũng không thể hình dung ra một giải pháp sơ sài hơn thế.

Suzuki_Window_Van_15

Nhưng những vấn đề về trang bị cũng nhanh chóng bị lãng quên ngay khi hành trình bắt đầu. Chiếc xe chạy trên đoạn đường khá nhiều ổ gà ở ngoại ô, đầu quốc lộ 6 khiến cho những người ngồi hàng ghế thứ 2 như muốn nhảy lên. Mặc dù chỉ có hai ngày du ngoạn, nhưng hành lý của chúng tôi khá cồng kềnh. Lý do là đôi bạn trẻ quyết định kết hợp chụp ảnh cưới nên phải mang theo khá nhiều đồ đạc và trang phục cho việc đó. Toàn bộ không gian của hàng ghế thứ 3 được ưu tiên cho việc xếp hành lý. Vấn đề là ở chỗ phần đuôi xe vẫn bị nhẹ quá so với khả năng của hệ thống treo kiểu lá nhíp.

Thỏa sức khám phá mọi nơi

Tiếng động cơ nổ ngay bên dưới chân, cộng với “dàn âm thanh” tổng hợp từ các chi tiết đã xuống cấp sau hơn 10 năm sử dụng như cửa kính, vỏ xe, rồi từ tiếng lốp, giảm xóc… Ở tốc độ chạy đều 50km/h, độ ồn đo được là 75dB, ở 70km/h độ ồn lên tới 80dB. Tất cả cùng tạo nên một “dàn đồng ca” át hết tất cả mọi âm thanh từ các phương tiện bên ngoài, ngoại trừ tiếng còi.

Suzuki_Window_Van_16

Đối với người ngồi trên ghế lái, sự bất ngờ đến từ hệ thống động lực. Nếu chỉ nhìn vào bảng thông số kỹ thuật, Window Van có thể khiến người ta thất vọng, và có lẽ đó chính là nguyên nhân chính khiến nó bị nhiều thành viên “chém gió” rồi comment “dìm hàng” trên các diễn đàn về ôtô ở Việt Nam. Công suất cực đại chỉ có 42 mã lực tại số vòng tua gần như tối đa 5.500 vòng/phút và mô-men xoắn cực đại cũng chỉ khiêm tốn ở con số 68Nm tại 3.000 vòng/phút. So với các dòng xe nhỏ khác đang có trên thị trường, sức mạnh trên lý thuyết của Window Van còn kém xa, thậm chí so với cả một số dòng xe có động cơ nhỏ hơn 1.0 lít.

Nhưng những gì mà nó thể hiện khiến cho người ngồi sau vô-lăng có thể thay đổi suy nghĩ. Hệ thống điều khiển từ chân ga, chân phanh, chân côn đều rất dễ kiểm soát và tương đối nhạy bén. Vô-lăng có độ nghiêng ít khiến người điều khiển phải hơi rướn tay mỗi khi đánh lái ôm cua. Hơn nữa, lực đánh lái hơi nặng có thể làm tăng sự vất vả cho các tài xế, đặc biệt mỗi khi cua quá gấp hoặc quay đầu.

Suzuki_Window_Van_14

Đổi lại, hộp số làm việc khá trơn tru, nhẹ nhàng và dường như có sự phối hợp rất ăn ý với một động cơ cỡ nhỏ. Những con đường đồi núi quanh co với những con dốc dài liên tiếp tiến về Mộc Châu vốn chưa quá mức thử thách đối với những dòng xe đường trường, nhưng cũng đủ để Window Van chứng tỏ nó không phải là một chiếc xe “bé” về khả năng.

Những con dốc quanh co nghiêng tới 8 – 10% nối nhau liên tiếp, nhưng Window Van vẫn tỏ ra dư sức ở số 3, mặc dù trên xe có 4 người ngồi và nhiều hành lý. Tiếng động cơ grừ grừ cộng với trạng thái hơn chồm của xe ở dải vòng tua tầm trung cho thấy người cầm lái vẫn phải cẩn thận với những cú thốc ga trên đường đèo dốc. Nếu duy trì được đà và đặc biệt là mở cua hợp lý tại những khúc cua rộng với tầm quan sát tốt, lái xe có thể chuyển số 4 với tốc độ trong khoảng từ 55 – 60km/h. Tuy nhiên, với nhiều khúc cua gấp và dốc, số 3 sẽ lý tưởng hơn, an toàn và đảm bảo độ sung sức của xe hơn. Mặc dù bề rộng của xe rất hẹp, nhưng hệ thống treo khá khỏe, nên chiếc xe vẫn có thể ôm cua liên tục trên đường đèo khá tự tin.

Suzuki_Window_Van_10

Hàng trăm cây số bị bỏ lại sau lưng một cách nhanh chóng và nhẹ nhàng. Theo kế hoạch, chúng tôi sẽ đến điểm xa nhất của lộ trình khám phá là thành phố Sơn La, sau đó sẽ quay trở lại Mộc Châu vào ngày hôm sau rồi từ đó thẳng tiến về Hà Nội.

Sau một đêm ngon giấc dưới tiết trời se lạnh, chương trình khám phá của chúng tôi là trở về cao nguyên Mộc Châu. Thiên nhiên đã ban tặng cho vạn vật và con người ở vùng đất này một vùng tiểu khí hậu đặc thù với nhiệt độ mùa hè rất mát mẻ ở mức trung bình 20 độ C. Vùng đất này trải dài khoảng 80km, rộng chừng 25km với 1.600ha đồng cỏ. Sự ưu đãi của thiên nhiên cả về thời tiết và độ phì nhiêu của đất đai là những điều kiện lý tưởng để Mộc Châu trở thành địa danh nổi tiếng của nhiều loại “đặc sản”. Những cánh rừng đào hút tầm mắt ở các bản Loong Luông, Tân Lập, Pà Cò… thu hút hàng trăm hàng ngàn khách du lịch thập phương đến mua đào mỗi dịp Tết đến xuân về. Những đồi chè xanh bát ngát tưởng như vô tận là nguồn cung chè ngon hảo hạng đi khắp nơi. Những thảo nguyên xanh non mơn mởn là nguồn thức ăn rồi dào cho các nông trường chăn nuôi bò sữa, nơi cung cấp các sản phẩm từ sữa bò nổi tiếng trên cả nước.

Suzuki_Window_Van_8

Chi phí – chẳng phải lo nghĩ

Điều mà có lẽ nhiều người quan tâm là chúng tôi đã chi phí khá tiết kiệm trong chuyến đi này. Về mức tiêu thụ nhiên liệu, chúng tôi đã tiến hành đo tỉ mỉ và cho kết quả 8,3 lít/100km. Con số có thể không mấy hấp dẫn đối với một chiếc xe trang bị động cơ 1.0 lít, nhưng trên địa hình đường đồi núi nhiều đèo dốc, quanh co khúc khuỷu, lại chở 4 người lớn cùng nhiều hành lý, thì mức tiêu thụ ấy cũng khá thuyết phục.

Thông số kỹ thuật cơ bản Suzuki Window Van

Dài x rộng x cao (mm) 3.290 x 1.395 x 1.780
Động cơ

Công suất cực đại

Mô-men xoắc cực đại

4 xy-lanh, 970cc

42 mã lực tại 5.500v/ph

68Nm tại 3.000v/ph

Giảm chấn trước

Giảm chấn sau

Kiểu cabin

Phanh trước

Phanh sau

Lò xo

Nhíp lá

Khung thép hàn

Đĩa

Tang trống

  • Bài: Trần Việt Anh – Ảnh: Đinh Hùng Sơn

 

Bạn có thể quan tâm